Cá chốt là đối tượng dễ nuôi, nhẹ công chăm sóc, đặc biệt trong môi trường nước lợ, ngọt, cá đều tăng trưởng tốt và các vấn đề về dịch bệnh. Do đó mô hình nuôi cá chốt trong ao đất đang được nhiều địa phương triển khai và mang lại kinh tế khả quan.
I. CHUẨN BỊ TRƯỚC KHI NUÔI
1. Điều kiện ao nuôi
– Gần nguồn nước, ao có thể chủ động cấp, thay nước thuận lợi. Nguồn nước cấp không bị ô nhiễm bởi nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp và nông nghiệp.
– Chất đất: đất thịt, đất pha cát giúp giữ nước tốt, bờ ao không bị rò rỉ.
– Diện tích ao thích hợp: 300 – 1.000m² (nuôi nhỏ lẻ) hoặc 1.000 – 3.000m² (nuôi thương phẩm lớn).
– Độ sâu ao khi chưa cấp nước: 1,5 -1,8m.
– Mực nước thích hợp sau khi cấp: 1,2 – 1,5m. Vùng nước sâu giúp cá chốt trâu (loài sống đáy) ổn định môi trường, giảm sốc nhiệt. Mùa nắng có thể tăng mực nước lên 1,6 – 1,8m để hạn chế nóng và bốc hơi.
– Bờ ao cao ≥ 0,5 m so với mực nước cao nhất, bờ chắc, không xói lở.
– Có cống cấp – cống thoát riêng, lưới chắn tạp để hạn chế cá dữ và côn trùng vào ao.
– Các chỉ tiêu nước ao tiêu chuẩn:
| CHỈ TIÊU | GIÁ TRỊ THÍCH HỢP | GHI CHÚ |
| pH | 6.5 – 8.0 | Ổn định, dao động không quá ±0.5/ngày |
| Oxy hoà tan (DO) | ≥ 3 mg/L | Tốt nhất 4–6 mg/L |
| Nhiệt độ | 26 – 30°C | Cá sống đáy nên nhạy với biến động nhanh |
| Độ kiềm | 60 – 120 mg/L | Hỗ trợ ổn định pH |
| NH3 | < 0.05 mg/L | Tránh tích tụ khí độc từ bùn đáy |
| NO₂⁻ (nitrit) | < 0.1 mg/L | Giảm nguy cơ ngộ độc máu |
| Độ trong | 30 – 40 cm | Màu nước xanh nõn chuối là lý tưởng |
| Độ mặn | 0‰ (nước ngọt) | Cá chốt trâu chịu được độ mặn thấp nếu thuần |
2. Chuẩn bị ao nuôi
– Chặt tỉa cây cối quanh bờ cho thoáng đãng. Bơm cạn ao, tạt vôi xử lý với lượng 7 – 10kg/100m2. Phơi ao 2 – 3 ngày nhằm khử trùng và thoát khí độc trong ao.
– Lọc nước khi cấp vào ao bằng lưới 0,5 – 1mm để ngăn cá tạp. Lấy nước vào ao với mực nước từ 45 – 50cm, sử dụng iodine 2ml/m3 nước để khử trùng nước.
– Sau 2 – 3 ngày tiến hành gây màu nước bằng cách bón phân, men vi sinh hoặc chế phẩm gây màu để tạo nguồn thức ăn tự nhiên. Sau khi gây màu, tiếp tục lấy nước vào đủ 1,2 – 1,5cm.
– Sau khi gây màu 2 – 3 ngày, kiểm tra lại pH – DO – độ trong, nếu đạt mới thả giống.

BIO TEA – Vi sinh gây màu trà, bổ sung vi sinh tạo thức ăn tự nhiên
3. Chọn giống
– Cá khỏe mạnh: quan sát thấy cá đớp móng nhanh và mạnh
– Cá không bị nhiễm ký sinh trùng và nhiễm khuẩn: kiểm tra ngẫu nhiên 10 – 20 con để đánh giá mức độ nhiễm ký sinh trùng cũng như nội tạng của cá như gan, thận,…
– Cỡ cá đồng đều tốt nhất từ 8 – 10cm tương đương 12 – 15g/con, cơ thể không bị trầy xước, mất nhớt, các vây đầy đủ và không bị tổn thương.
– Thả giống: cá sau khi vận chuyển về nên ngâm bao cá trong ao nuôi từ 10 – 15 phút cho can bằng nhiệt độ ở trong túi và ao để tránh cá bị sốc sau khi thả. Cá trước khi thả được tắm qua dung dịch nước muối NaCl 2 – 3% trong thời gian 10 – 15 phút nhằm sát khuẩn, trị vết thương cho cá. Thả cá vào sáng sớm khi trời mát.
– Mật độ thả cá giống: 40 con/m2.
II. CHĂM SÓC VÀ QUẢN LÝ
1. Thức ăn và chế độ ăn
– Thức ăn chủ yếu của cá chốt là giáp xác, các loại côn trùng, phiêu sinh động hoặc là thức ăn viên sẵn.
+ Lúc mới thả: Bắt đầu từ ngày 1 đến ngày 7 sử dụng thức ăn cho cá dạng bột. Rải đều khắp ao. Chia làm 6 – 7 cử ăn/ngày.
+ Sang tuần thứ hai (sau ngày 7) cho ăn thức ăn cho cá dạng viên (cho ăn tập trung 1 điểm, cho ăn 2 lần/ngày vào lúc sáng sớm và chiều mát).
+ Khi cá lớn hơn cho ăn thức ăn của cá kèo.
– Điều chỉnh thức ăn phù hợp tránh cho ăn quá nhiều dễ gây dư thừa, ô nhiễm nguồn nước. Cá chốt rất nhạy cảm với sự thay đổi của thời tiết, nhất là vào những ngày mưa nhiều, cá ăn rất ít thậm chí bỏ ăn.
– Định kỳ bố sung vitamin C, vitamin tổng hợp 5g/kg thức ăn, sản phẩm bổ gan 5ml/kg thức ăn nhằm tăng sức đề kháng, phòng bệnh cho cá và kích thích cá phát triển.

Vitamin tổng hợp Miavita Gold và sản phẩm bổ gan thảo dược Herbal Aqua
2. Quản lý môi trường ao
– Thường xuyên kiểm tra nguồn nước trong ao, thay nước theo định kỳ, đặc biệt thấy bất thường (nước đục, đáy bẩn) cần thay ngay (khi thay nước để lại 1/3 nước cũ rồi bơm thêm nước mới vào, tránh cá sốc).
– Dùng chế phẩm sinh học 7 – 10 ngày/lần để kiểm soát khí độc NH3, H2S.
3. Một số bệnh thường gặp ở cá chốt trâu
*Bệnh nhiễm khuẩn, nấm, ngoại ký sinh
– Ngoại ký sinh: trùng mặt trời, trùng quả dưa, sán đơn chủ bám phá hoại mô bì hút máu và làm thân cá bị thương, xay xát, có thể gây xuất huyết.– Vi khuẩn:
- Aeromonas hydrophila(bệnh xuất huyết) có biểu hiện xuất hiện các nốt xuất huyết trên đầu, miệng và hốc vây, lỗ huyệt sưng đỏ.
- Flavobacteriumcolumnare(bệnh trắng đuôi) biều hiện có vệt trắng ở thân và đuôi, bơi lờ đờ, giảm ăn.
- Edwardsiella ictaluri (bệnh gan thận mủ) biểu hiện bơi lờ đờ, giảm ăn, sau khi giải phẩu có những đốm trắng đục trên gan, thận và tỳ tạng.
– Nấm: có những sợi màu trắng như bông thường ký sinh trên thân cá làm cá mất máu, yếu dần rồi chết, thường xảy ra vào mùa lạnh.
* Bệnh nội ký sinh
Do giun tròn, giun đầu gai, ký sinh trùng Ichthyonyctus, vi bào tử trùng Microsphoridians làm cá chậm lớn còi cọc và chết.
*Bệnh do môi trường
Do môi trường nước thay đổi đột ngột gây sốc (bệnh trắng da).
4. Phòng và trị bệnh trên cá chốt
– Chọn loại cá giống khỏe, không bị nhiễm bệnh tại cơ sở có uy tín.
– Nuôi ở mật độ vừa phải.
– Kiểm soát lượng thức ăn hợp lý.
– Nguồn nước cấp vào phải được lắng và lọc, định kỳ 10 – 15 ngày diệt khuẩn ao nuôi.
– Thường xuyên bổ sung men tiêu hoá, các sản phẩm betaglucan hoặc tỏi để tăng sức đề kháng cho cá.
– Định kỳ xổ nội kí sinh cho cá sử dụng 20 ngày/lần đối với cá giống hoặc 30 ngày /lần đối với cá thịt.
– Theo dõi chất lượng nước và dấu hiệu bên ngoài của cá thường xuyên để xử lí kịp thời.

Bổ sung acid amin và vitamin trong X-ONE và Dịch cao tỏi giúp cá tăng trưởng nhanh và tăng đề kháng.
III. THU HOẠCH VÀ TIÊU THỤ
– Sau khoảng 5 tháng nuôi cá đạt cỡ trung bình từ 25 – 30 con/kg là có thể thu hoạch.
– Tháo nước từ từ, dùng lưới kéo thu tỉa những con to bán trước hoặc nếy thị trường tiêu thụ tốt có thể thu toàn bộ.
– Cá chốt trâu thịt trắng, thơm, giá bán ổn định – lợi nhuận cao. Nên bảo quản cá còn sống sau thu hoạch để đảm bảo chất lượng cá tốt nhất, bán được giá cao hơn.
– Sau thu hoạch xong có thể vệ sinh ao và bắt đầu vụ mới chỉ sau 1 – 2 tuần.








